Tiệm Ảnh Thanh Xuân

Tiệm Ảnh Thanh Xuân CHUYÊN PHỤC HỒI, PHỤC CHẾ ẢNH CŨ.DỰNG ẢNH TRẮNG ĐEN THÀNH ẢNH MÀU ĐẸP, CHẤT LƯỢNG.Liên hệ: 0946306415

Phục hồi ảnh Giáo sư Lương Định Của - người tạo ra giống lúa lai đầu tiên của Việt Nam.Năm 1952, GS Lương Định Của tìm m...
15/09/2026

Phục hồi ảnh Giáo sư Lương Định Của - người tạo ra giống lúa lai đầu tiên của Việt Nam.
Năm 1952, GS Lương Định Của tìm mọi cách trở về Việt Nam để dốc sức cho Tổ quốc. Đường về khó khăn, ông phải vào Nam, rồi đến cuối 1954 mới ra Bắc, bắt đầu những cống hiến lớn lao cho nền khoa học nông nghiệp nước nhà.
🌱 Và ông đã làm điều chưa ai làm được: Dùng các gene tốt nhất của giống lúa Ba Thác (Nam Bộ) kết hợp giống Wungku của Nhật Bản để tạo ra giống lúa lai đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một dấu mốc lịch sử, chứng minh rằng người Việt Nam hoàn toàn có thể tự chủ trong lai tạo giống lúa năng suất cao.
🚸 Không chỉ tạo giống lúa, ông còn tiên phong xây dựng bờ vùng, bờ thửa, hệ thống canh tác… đặt nền móng cho nông nghiệp năng suất, góp phần đảm bảo lương thực trong kháng chiến với phương châm: “Thóc không thiếu một cân - Quân không thiếu một người”.
Ông sinh ra tại làng Đại Ngãi, Kế Sách (nay là thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú), Sóc Trăng. Ông là 1 nhà nông học, nhà tạo giống cây trồng, người có đóng góp to lớn cho nền nông nghiệp Việt Nam. Ông được mệnh danh là “Nhà bác học của đồng ruộng”.
Lúc nhỏ, Lương Định Của học ở Trường Tiểu học Lasan Taberd ở tỉnh lỵ Sóc Trăng, rồi chuyển lên Sài Gòn học bậc trung học. Sau đó ông đi du học Hương Cảng học ngành y học, tiếp đó là Thượng Hải học ngành kinh tế trước khi nhận được học bổng của chính phủ Nhật Bản. Ông sang Nhật năm 1942, được nhập ngang vào học năm thứ ba tại Trung tâm Nghiên cứu Nông học Nhiệt đới thuộc Trường Đại học Quốc gia Kyushu.
Năm 1945 ông cưới vợ là bà Nobuko Nakamura người Nhật. Năm 1946, ông chuyển sang Trường Đại học Quốc gia Kyoto và được cấp bằng tiến sĩ nông học, ông cũng là vị tiến sĩ thứ 96 của nước này.
Năm 1951, Lương Định Của bảo vệ xuất sắc luận án di truyền học được hội đồng khoa học Trường Đại học Đại học Tổng hợp Kyoto nhận xét có cống hiến lớn cho ngành nông học trong việc cải thiện giống lúa và nhất trí cấp học vị Bác sĩ nông học – học vị cao nhất Nhật Bản lúc bấy giờ. Thời điểm ấy, ông là người trẻ nhất và cũng là người nước ngoài duy nhất được cấp học vị này tại Nhật Bản.
Năm 1952, nghe theo lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và theo tiếng gọi của quê hương, Lương Định Của cùng vợ và con rời bỏ vinh hoa phú quý trở về Việt Nam với mong muốn phấn đấu hết khả năng của mình để đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Cuối 1954, ông cùng gia đình tập kết ra Bắc. Từ năm 1956 đến năm 1960, ông làm Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Từ 1963 đến năm 1967, ông là Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp. Từ năm 1968 đến ngày 28-12-1975, ông là Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Ông là đại biểu Quốc hội liên tục các khóa: II, III, IV và V kéo dài trong 15 năm (từ năm 1960 đến năm 1975).
Là một nhà bác học, nhưng Lương Định Của vẫn làm việc trong một căn phòng rất đơn sơ. Ngoài giờ lên lớp, ông thường xắn quần lội trên những cánh đồng thí nghiệm. Trong suốt cuộc đời mình, giáo sư Lương Định Của đã dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp nghiên cứu và phát triển giống cây trồng, trong đó có nhiều giống lúa đạt năng suất cao, chất lượng tốt như giống Nông nghiệp 1 được lai tạo từ giống Ba Thắc của Nam bộ với Bunko (Nhật Bản), giống lúa mùa muộn Saisubao, giống lúa Chiêm 314, giống NN75-1, dòng NN8-388 (chọn giống từ IR8)… Các giống lúa này đã góp phần nâng cao năng suất lúa của Việt Nam, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Ngoài ra, giáo sư Lương Định Của còn nghiên cứu, phát triển các kĩ thuật canh tác tiên tiến giúp tăng năng suất và chất lượng cây trồng như kỹ thuật tưới nước tiết kiệm, kỹ thuật bón phân hợp lý, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại,...
Với các đóng góp lớn lao trong sự nghiệp của mình, năm 1967, ông được Nhà nước phong tặng Anh hùng lao động và truy tặng giải thường Hồ Chí Minh năm 1996. Năm 2006, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã lập một giải thưởng mang tên Lương Định Của. Tên của ông hiện được đặt cho một tuyến đường ở Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, một tuyến phố ở quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

"Nhất Tấn nhì An tam Đan tứ Chơn" là câu nói tôn vinh bốn vị tướng chỉ huy chiến trường tài giỏi nhất của Quân đội Nhân ...
15/09/2026

"Nhất Tấn nhì An tam Đan tứ Chơn" là câu nói tôn vinh bốn vị tướng chỉ huy chiến trường tài giỏi nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
----------------------------------------------------------
-🌟 Nhất Tấn: Đại tướng Lê Trọng Tấn
Đại tướng Lê Trọng Tấn (1914-1986) là một trong những tướng chỉ huy chiến dịch giỏi nhất Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông tham gia cách mạng năm 1944, nhập ngũ năm 1945 và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam cùng năm. Ông từng giữ các chức vụ quan trọng như Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Học viện Quân sự Cấp cao.

Ông tham gia nhiều chiến dịch lịch sử: Biên giới (1950), Hòa Bình (1951), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953), Điện Biên Phủ (1954), Đồng Xoài, Bàu Bàng - Dầu Tiếng (1965), phản công Giăngxơn Xity (1967), Đường 9 - Nam Lào, Cánh Đồng Chum (1971), Trị - Thiên (1972), giải phóng Huế - Đà Nẵng (3/1975) và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau thống nhất đất nước, ông tiếp tục tham gia chỉ huy lực lượng quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Ông được đánh giá là người chỉ huy kiên cường, tài ba, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi là "một trong những vị tướng giỏi nhất Việt Nam qua các thời đại".

🥈 Nhì An: Thượng tướng Nguyễn Hữu An
Thượng tướng Nguyễn Hữu An (1926-1995), quê ở Gia Viễn, Ninh Bình, nhập ngũ năm 1945 và trở thành đảng viên cùng năm. Ông từ chiến sĩ lên trung đoàn trưởng, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ chỉ huy Trung đoàn 174, Đại đoàn 316.

Trong kháng chiến chống Mỹ, ông giữ chức Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 6, 1, 308, tham gia các chiến dịch Plây Me, Tu Mơ Rông, Ia Đrăng, Đường 9 - Nam Lào, Cánh Đồng Chum. Năm 1975, ông là Tư lệnh Quân đoàn 2 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau chiến tranh, ông từng giữ chức Phó Tổng Thanh tra Quân đội, Phó Tư lệnh Quân khu 2, Giám đốc Học viện Lục quân và Học viện Quốc phòng. Ông được coi là một trong những sư đoàn trưởng tài ba của quân đội.

🥉 Tam Đan: Thiếu tướng Hoàng Đan
Thiếu tướng Hoàng Đan (1928-2003), sinh ở Nghi Thuận, Nghi Lộc, Nghệ An, tham gia hoạt động cách mạng năm 1945. Ông tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979.

Ông có nhiều chức vụ từ trung đội trưởng lên sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, Phó tư lệnh Quân đoàn 1, 2, Tư lệnh Quân đoàn 5, Quân khu 1. Sau năm 1975, ông làm Phó giám đốc Học viện Quân sự Cấp cao, tham gia biên soạn tài liệu quân sự, giảng dạy các sĩ quan trung cao cấp. Ông được đánh giá là "tướng chiến trận" dũng cảm, có mưu trí, đồng thời là nhà lý luận quân sự xuất sắc. Năm 2014, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

🏅 Tứ Chơn: Thượng tướng Nguyễn Chơn
Thượng tướng Nguyễn Chơn (1927-2015), quê ở Hòa Vang, Quảng Nam, nhập ngũ năm 1946, kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1949. Ông bắt đầu từ tiểu đội trưởng, tiến lên các chức vụ trung đoàn trưởng Sư đoàn 305, sau đó học tại Trường Sĩ quan Lục quân khóa 10.

Trong kháng chiến chống Mỹ, ông là cán bộ tham mưu Trung đoàn 1 Ba Gia, Khu 5, sau đó giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 2, Quân khu 5. Năm 1987, ông được bổ nhiệm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau đó là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI và VII, đại biểu Quốc hội khóa VI và VIII. Ông được trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân năm 1970.

15/09/2026

"Cái quý nhất của con người là sự sống và danh dự sống, bởi vì đời người chỉ sống có một lần"

'' ĐẦU HÀNG CHÚ CHƠN ĐI CÁC CON ''Thượng tướng Nguyễn Chơn là một trong 4 vị tướng cầm quân giỏi nhất của Việt Nam trong...
15/09/2026

'' ĐẦU HÀNG CHÚ CHƠN ĐI CÁC CON ''
Thượng tướng Nguyễn Chơn là một trong 4 vị tướng cầm quân giỏi nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20. "Nhất Tấn-Nhì An-Tam Đan-Tứ Chơn". Trong suốt sự nghiệp cầm quân của mình các trận đánh của ông không bao giờ có chữ "khiến đối phương thiệt hại nặng". Vì đơn giản ông đã đánh là xóa luôn phiên hiệu của đối phương, coi như đơn vị đó chưa từng tồn tại. Đây được gọi là lối đánh "bóc trọc".
Khi nhắc về Thượng tướng Nguyễn Chơn không ai là người không nể phục kính trọng, coi ông là vị tướng sinh ra để mà chiến đấu, để mà tiến công, như những vần thơ họ đã yêu mến viết về ông: “Dùng người như Thần toán. Quyết đoán như Thái sơn. Kỷ cương như sắt thép. Mưu trí thật phi thường. Uy danh trùm bờ cõi. Ngàn thu tỏa ánh dương”. Còn đối với kẻ địch thì cụm từ phát thanh trong các trận đánh: "Đầu hàng chú Chơn đi các con" do chính ông vận động có sức mạnh tác động đến tâm lý ghê gớm.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Thượng tướng Nguyễn Chơn - Người từng hai lần làm sư đoàn trưởng sư 2 nổi tiếng với hai lần được phong danh hiệu Anh hùng. Cái danh mà Ông để lại đến nỗi mà người ta còn quen gọi phiên hiệu sư 2 gắn liền với tên tuổi của ông là Sư đoàn Nguyễn Chơn. Trong suốt cuộc đời binh nghiệp chinh chiến của Thượng tướng Nguyễn Chơn, Ông đã trải qua 9 năm chống Pháp, gần 20 năm chiến đấu cho sự nghiệp thống nhất đất nước.
Bản lĩnh của người chỉ huy của Ông sớm bộc lộ từ khi ông còn là cán bộ cấp phân đội. Các trận đánh do ông chỉ huy luôn diễn ra nhanh gọn, ít thương vong. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nhiều trận đánh tướng Nguyễn Chơn từng lao vào đồn, xông thẳng vào đội hình quân địch để tiêu diệt. Nổi bật là đơn vị của Nguyễn Chơn đã tiêu diệt tập đoàn phòng ngự bắc Kon Tum; tiêu diệt gọn, xóa sổ phiên hiệu một đơn vị quân Pháp ở đèo An Khê, Gia Lai. Được Tư lệnh Liên khu 5 nhiều lần tuyên dương công trạng.
Tháng 4-1959 đến tháng 1-1965, Ông giữ chức cán bộ tham mưu, Trung đoàn Ba Gia được Hoa Kỳ gọi là "đệ nhất trung đoàn tinh luyện Việt Cộng", tại Khu 5. Trong giai đoạn này ông tham gia chỉ huy trận đánh đồn Việt An tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn đối phương tại đây.
Năm 1964-1965, ông là Tiểu đoàn trưởng Trung đoàn 1 Sư đoàn 2 – đơn vị 2 lần Anh hùng LLVT nhân dân. Năm 1967 đến 1969 ông là Trung đoàn trưởng chỉ huy đánh và tiêu diệt hơn 1 tiểu đoàn, bắt tù binh Mỹ ở ngoại ô Đà Nẵng. Từ năm 1969 đến 1975 là Sư đoàn phó và Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 Quân khu 5, tham gia chỉ huy chiến đấu ở Nam Lào (1971) giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven để mở đường dây 559, rồi sau đó về chỉ huy đánh Đắc Tô-Tân Cảnh năm 1972, giải phóng bắc Tây Nguyên - Tại đây Sư đoàn 22 bộ binh VNCH bị Sư 2 của tướng Chơn xóa sổ phiên hiệu, Đại tá Lê Đức Đạt - Tư lệnh sư 22 bộ binh VNCH cũng bị tử trận.
Năm 1975, ông chỉ huy Sư đoàn 2 đánh chiếm Tam Kỳ và tham gia giải phóng Đà Nẵng. Ông cùng đồng đội trải qua bao chiến trường, lập nên những chiến công vang dội ghi dấu ấn trong chiến tranh góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhưng cuộc đời trận mạc của ông chưa dừng ở đó, Đất nước thống nhất, Ông tiếp tục được "lĩnh ấn soái" cầm quân ra trận làm nhiệm vụ Quốc tế giúp nước bạn đánh đuổi nạn diệt chủng Pôn Pốt và ông chính là vị tướng cầm câm đánh trận đánh lớn cuối cùng với lính Khơ-me Đỏ ở cao điểm 547- Preah Vihear. Đó là đầu năm 1984, sau khi nhận chức Tư lệnh Quân khu 5, Trung tướng Nguyễn Chơn đã cùng chỉ huy Mặt trận 579 đi thị sát thực địa.
Quân khu 5 tập trung lớn lực lượng quyết tâm tiêu diệt căn cứ 547 mở màn cho chiến dịch tiêu diệt toàn bộ tập đoàn quân Pôn Pốt ở vùng biên giới Đông Bắc Campuchia. Nhờ bộ óc chiến lược và chuẩn bị chu đáo về mặt hậu cần. Toàn bộ sở chỉ huy căn cứ 547 của địch bị xóa sổ hoàn toàn.
Tung hoành khắp mọi chiến trường trên dải đất miền Trung, Tây Nguyên và nước bạn Lào, Campuchia với nhiều cương vị chỉ huy; trực tiếp chỉ huy chiến đấu và chiến thắng hàng trăm trận. Mưu trí, sáng tạo, dũng cảm, nắm chắc lực lượng ta, hiểu rõ tình hình địch, luôn giành thế chủ động, dồn địch vào thế bị động, bất ngờ, sắc sảo giải quyết hiệu quả những tình huống ngẫu nhiên, mới nảy sinh…; hết lòng thương yêu đồng chí đồng đội, rất mực nhân ái bao dung là nét đặc sắc nhất trong cuộc đời chỉ huy trận mạc của Thượng tướng Nguyễn Chơn, Anh hùng LLVTND.

Đại tướng Văn Tiến DũngVị Tổng Tham mưu trưởng tại vị lâu nhất Việt NamCó một người thợ may nghèo đã nhiều lần vượt ngục...
15/09/2026

Đại tướng Văn Tiến Dũng
Vị Tổng Tham mưu trưởng tại vị lâu nhất Việt Nam
Có một người thợ may nghèo đã nhiều lần vượt ngục thành công và bị thực dân Pháp kết án t,ử h,ình vắng mặt từ khi còn rất trẻ.
Cũng chính ông, 30 năm sau trở thành người giữ trọng trách Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trực tiếp chỉ huy 5 cánh quân tiến về Sài Gòn, thống nhất đất nước.
Không ai khác, đó chính là Đại tướng Văn Tiến Dũng - nhà chiến lược xuất sắc của thời đại Hồ Chí Minh.
Sinh năm 1917 tại Hà Nội, Văn Tiến Dũng sớm dấn thân vào phong trào công nhân ngành dệt và trở thành đảng viên khi mới tuổi 20.
Từ một người thợ tự học, ông dần tích lũy kiến thức quân sự để trở thành Tổng Tham mưu trưởng tại vị lâu nhất lịch sử nước ta (với 25 năm).
Với tư duy nhạy bén, tướng Dũng đã trực tiếp chỉ đạo hàng loạt chiến dịch mang tính bước ngoặt như Đường 9 - Nam Lào, Trị - Thiên 1972 hay “cú đấm thép” tại Buôn Ma Thuột năm 1975.
Đỉnh cao sự nghiệp của ông là vai trò Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử khi trực tiếp chỉ huy 5 cánh quân thực hiện cuộc tổng tấn công táo bạo và thần tốc, đập tan bộ máy chiến tranh của địch, thu non sông về một mối.
Ngày 17/3/2002 (tức ngày này cách đây tròn 24 năm), Đại tướng Văn Tiến Dũng vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của hàng triệu đồng bào, khép lại cuộc đời “vì nước quên thân” như câu nói của chính ông khi bị bắt tại Hoả Lò cuối năm 1944:
“Ai chả muốn sống! Không ai muốn ch,ết cả. Nhưng đối với người cách mạng, nếu vì sự nghiệp chung của đất nước, của Tổ quốc, cần phải ch,ết thì cũng sẵn sàng thôi”.

NỮ TÌNH BÁO TÁM THẢO ĐỄ TANG BÁC NHIỀU THÁNG TRỜI NGÀY GIỮA LÒNG ĐỊCHĐầu tháng 9/1969, khi đang ngồi trong nhiệm sở của ...
15/09/2026

NỮ TÌNH BÁO TÁM THẢO ĐỄ TANG BÁC NHIỀU THÁNG TRỜI NGÀY GIỮA LÒNG ĐỊCH
Đầu tháng 9/1969, khi đang ngồi trong nhiệm sở của địch, tiểu thư Mỹ Nhung được một viên thiếu tá Mỹ báo: "Ông Hồ mất rồi".

Dù đã quá quen với các kiểu tin sốc bất ngờ, nhưng chính trong khoảnh khắc đó, Tám Thảo vẫn cảm thấy tim mình đứng sững lại.

Nhưng chỉ trong tích tắc sau, bản năng mách bảo cô phải giữ ngay lại bình tĩnh, bởi lúc xúc động dễ sơ hở lộ. Quay mặt ngó lơ, cô đáp lại rất hờ hững: “Vậy hả?” rồi tiếp tục làm việc. Viên thiếu tá nhìn cô dò xét một lúc rồi cũng quay đi.

"Khi trở về nhà tôi chỉ biết ôm ba tôi khóc nức nở như một đứa trẻ. Ba dỗ dành tôi "con khóc sưng mắt thế này ngày mai sao đi làm được" nhưng rồi ông ấy cũng òa lên khóc vì quá đau lòng trước sự ra đi của Bác", bà Thảo xúc động nhớ lại.

Bà Tám Thảo kể, thời điểm biết tin Bác mất, thành phố Sài Gòn chìm trong tang tóc.Cả tháng trời, dù địch theo dõi ngăn cản gắt gao nhưng trên khắp đường phố, đồng bào vẫn tổ chức lễ truy điệu cho Bác dưới hình thức công khai lẫn bí mật.

Anh em công nhân, các tầng lớp sinh viên, học sinh ngày ngày kính cẩn mặc niệm Bác trong tiếng hát trang nghiêm của bài "Hồn tử sĩ". Ở nhà lao Chí Hoà, 600 anh chị em tù chính trị sáng nào cũng hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm Người.

Chứng kiến tình cảm thiêng liêng đồng bào dành cho Bác, cảnh sát Cộng hòa cũng chỉ biết làm lơ.

"Hôm đó,báo chí đưa tin Bác mất nhiều, đồng bào ai cũng mua để đọc. Tôi đến nhờ bác xích lô chở đến chỗ làm nhưng bác ấy từ chối vì đang tưởng niệm Bác.Tôi ra chợ mua hoa quả cũng không ai bán vì họ quá buồn trước sự ra đi của Bác", bà Thảo tâm sự.

Dù đau lòng, nhưng với vị trí của Tám Thảo,dù có thương Bác đến mấy, bà cũng không được phép biểu lộ ra bên ngoài.Tuy nhiên, bằng trí thông minh của mình, Tám Thảo cũng qua mặt được viên sĩ quan tình báo Mỹ đầy kinh nghiệm để hiên ngang chịu tang Người ngay trong lòng địch.
Nhiều tháng liền cô Tám Thảo chỉ mặc chiếc áo trắng để tưởng niệm Bác. Sinh nghi, viên thiếu tá Mỹ hỏi: "Sao cô dạo này toàn mặc áo trắng vậy?".

"Từ bé tôi đã là tiểu thư, gia đình may cho tôi hàng trăm bộ quần áo. Mấy hôm nay trời nóng quá, tôi muốn thay đổi thời trang một chút nên mặc đồ trắng cho dễ chịu thôi", nữ tình báo khôn khéo đáp lại. Tên thiếu tá nghe vậy tin ngay.

Bồi hồi nhớ lại chuyện này, bà Tám Thảo nói: “Thực ra làm tình báo đâu có được liều lĩnh làm như vậy, nhưng lúc đó mình đau lòng quá. Kẻ thù nó phải sợ người Việt mình vì mình có những người như Bác chứ? Lúc đó, tụi lính chỗ cô cũng không dám chống lại đồng bào để tang. Tụi nó cũng buồn,nhưng không dám lộ ra vì sợ Tây nghi là Việt Cộng. Cứ nghĩ xem, người như ông Cụ mất, ai mà không khóc thương?”.

Nhìn bề ngoài ai cũng nghĩ Tám Thảo dửng dưng, vô cảm trước sự ra đi của Bác, thế nhưng sau mỗi buổi làm việc về nhà là cô lại chạy vào phòng khóc một mình.
Nữ chiến sĩ tình báo đã hơn 10 năm cận kề giữa sự sống và cái chết vẫn không thể tin rằng, trong đời mình bà lại từng khóc nhiều như những ngày tháng trắng màu tang năm 1969 đó

TẠ ĐÌNH ĐỀ - HUYỀN THOẠI CẬN VỆ CỦA BÁC HỒ:Xung quanh Tạ Đình Đề có rất nhiều câu chuyện vừa giai thoại, vừa mang tính h...
15/09/2026

TẠ ĐÌNH ĐỀ - HUYỀN THOẠI CẬN VỆ CỦA BÁC HỒ:
Xung quanh Tạ Đình Đề có rất nhiều câu chuyện vừa giai thoại, vừa mang tính huyền thoại. Xin được dẫn một số câu chuyện vẫn được lưu truyền trong dân gian và bạn bè ông.
Người ta kể rằng, Tạ Đình Đề là tình báo địch, từng nhận nhiệm vụ theo dõi bác Hồ. Vào một bữa trưa, Bác Hồ nói với cần vụ lấy thêm bát đũa rồi nói to: "Xin mời anh Tạ Đình Đề vào ăn cơm trưa với tôi".
Biết đã bị lộ, một thanh niên nhảy vọt ra đứng ngay trước mặt Bác Hồ. Không hiểu hai người nói chuyện gì mà Tạ Đình Đề thay đổi mục đích chuyến "viếng thăm" này và nói "Vậy tôi quyết định chấm dứt nhiệm vụ của địch giao cho, và xin đặt mình dưới quyền sử dụng của Bác". Từ đó Tạ Đình Đề trở thành cận vệ thân tín của Bác Hồ. Và nhiều lần ông đã chứng tỏ tài năng xuất chúng của mình.
Nhà văn Mai Ngữ trong "Lãng đãng chiều sương" kể một câu chuyện đặc biệt ly kỳ: “Tôi nhớ lại hồi Hà Nội xử vụ án Tạ Đình Đề, thiên hạ hiếu kỳ cả người lớn cả trẻ em đến ngồi đầy trong sân toà án. Tôi nghe trong đám trẻ chừng mười bốn, mười lăm tuổi đang ngồi xúm quanh một đứa lớn hơn đang liến láu kể chuyện, mắt mũi trợn trạo: "Thế này nhé, hồi Bác Hồ sang Trung Quốc, có người mời Bác hút thuốc lá.
Bác vừa ngậm điếu thuốc trên môi thì ông Tạ Đình Đề đứng bảo vệ Bác rút súng lục bắn "oành" một phát trúng điếu thuốc rơi xuống, ghê không? Chẳng là người ta đã tẩm thuốc độc vào điếu thuốc lá mà... Lũ trẻ ngồi ngẩn mặt nghe"...

14/09/2026

Phần 2 : “ Cái quý nhất của con người “

Nhớ mãi sự ấm áp, giản dị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng theo học tại Trường THPT Ng...
14/09/2026

Nhớ mãi sự ấm áp, giản dị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng theo học tại Trường THPT Nguyễn Gia Thiều (Hà Nội) trong suốt 6 năm - từ năm 1957 đến năm 1963. Trong quá trình theo học tại trường, ông từng làm lớp trưởng và bí thư chi đoàn.

Quãng đời học sinh tươi đẹp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gắn bó dưới mái trường Nguyễn Gia Thiều với biết bao kỉ niệm nên sau này, dù bận trăm công nghìn việc, Tổng Bí thư vẫn sắp xếp thời gian về thăm trường và luôn dành sự quan tâm, tình cảm trân quý với ngôi trường xưa.
Bức ảnh về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thời là học sinh Trường THPT Nguyễn Gia Thiều

14/09/2026

Thép đã tôi thế đấy

Address

351A Hùng Vương
Tam Ky
51000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tiệm Ảnh Thanh Xuân posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Tiệm Ảnh Thanh Xuân:

Shortcuts

Share